TẬP ĐOÀN KINH TẾ (3): ĐIỀU HÀNH TĐKT TẠI VIỆT NAM

Có thể nói một cách ví von rằng việc quản trị điều hành một một công ty giống như việc bơi thuyền trên sông; trong khi việc quản trị, điều hành một TĐKT có thể ví với việc lái một con tàu viễn dương.

Mô hình tập đoàn kinh tế là tất yếu

Điều hành một TĐKT có thể ví với việc lái một con tàu viễn dương

Với việc chính thức trở thành thành viên của WTO, Việt Nam đang đứng trước vận hội lớn để đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế và hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới.

Bối cảnh mới đòi hỏi sự phát triển kinh tế không chỉ dừng lại ở việc nâng cao tốc độ tăng trưởng mà còn phải chủ động lựa chọn những chiến lược phát triển kinh tế năng động, phù hợp với đặc thù của nước ta.

Theo đánh giá của các nhà kinh tế cũng như các nhà đầu tư nước ngoài, Việt Nam là một nước có tiềm năng phát triển rất lớn với các lợi thế như: sự ổn định chính trị- xã hội, những thuận lợi về vị trí địa lý, khí hậu, tài nguyên và đặc biệt là nguồn nhân lực.

Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là chúng ta cần phải có các biện pháp phù hợp để thu hút được các luồng đầu tư nước ngoài, tận dụng triệt để các lợi thế so sánh để đẩy nhanh tốc độ và chất lượng phát triển kinh tế.

Trong bối cảnh hiện nay việc tổ chức, sắp xếp lại các công ty có quy mô nhỏ lẻ, hoạt động manh mún và kém hiệu quả thành những doanh nghiệp lớn có đủ tiềm năng cạnh tranh sòng phẳng với các doanh nghiệp nước ngoài ngày càng xuất hiện nhiều ở Việt Nam là điều tất yếu.

Chỉ những doanh nghiệp có quy mô lớn, tiềm lực kinh tế mạnh, hoạt động đa ngành, đa lĩnh vực mới có thể tận dụng được các lợi thế để phát triển bền vững.

Tình hình tập đoàn kinh tế ở Việt Nam

Ý tưởng xây dựng các TĐKT ở nước ta đã manh nha từ năm 1994

Như vậy, mặc dù nền kinh tế Việt Nam có những bản sắc riêng nhưng vẫn phải tuân theo những quy luật và bản chất của cơ chế thị trường; trong đó quy luật cung cầu và quy luật cạnh tranh là những đặc trưng cơ bản.

Mỗi một thực thể tham gia vào nền kinh tế đều phải tuân theo những quy luật “bất biến” của nền kinh tế thị trường; trong đó, quy luật cạnh tranh có tác động rất lớn đến việc xác định chiến lược kinh doanh của các doanh nghiệp.

Yêu cầu về tích tụ và tập trung vốn vào các hoạt động sản xuất kinh doanh tất yếu dẫn đến việc hình thành TĐKT hoạt động đa ngành, đa lĩnh vực trong phạm vi rộng lớn tầm quốc gia và quốc tế.

Mặt khác, trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới, dưới áp lực cạnh tranh gay gắt đến từ bên ngoài, các doanh nghiệp Việt Nam vốn có tiềm lực nhỏ bé, năng lực quản lý còn nhiều hạn chế, khả năng chiếm lĩnh thị trường còn kém.
Do đó, vai trò chủ động của Nhà nước trong việc hình thành các TĐKT là hết sức cần thiết và hoàn toàn phù hợp với xu thế phát triển của một nền kinh tế chuyển đổi có bối cảnh đặc thù như ở nước ta.

Trên thực tế, ý tưởng xây dựng các TĐKT ở nước ta đã manh nha từ năm 1994 với việc ban hành Quyết định số 91 của Thủ tướng Chính phủ.

Về vấn đề này, Nghị quyết Hội nghị TW lần 3 (Khoá IX) xác định rõ: “Hình thành một số TĐKT mạnh trên cơ sở các tổng công ty nhà nước, có sự tham gia của các thành phần kinh tế, kinh doanh đa ngành, trong đó có ngành kinh doanh chính, chuyên môn hoá cao và giữ vao trò chi phối lớn trong nền kinh tế quốc dân, có quy mô rất lớn về vốn, hoạt động cả trong và ngoài nước, có trình độ công nghệ cao và quản lý hiện đại, có sự gắn kết trực tiếp, chặt chẽ giữa khoa học công nghệ, đào tạo, nghiên cứu triển khai với sản xuất kinh doanh”.

Có thể nói đây là những định hướng hết sức căn bản của việc hình thành các TĐKT trên cơ sở tổ chức lại các Tổng công ty Nhà nước.

Thực hiện chủ trương của Đảng, từ năm 2005 đến nay, một số TĐKT đã được thành lập theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ như: Tập đoàn Bưu chính- Viễn thông, Tập đoàn Than- Khoáng sản, Tập đoàn Dầu khí, Tập đoàn Tài chính- Bảo hiểm Bảo Việt, Tập đoàn Dệt may, Tập đoàn Điện lực, Tập đoàn Công nghiệp Tàu thuỷ,…

Theo đó, các TĐKT này “là công ty Nhà nước, có tư cách pháp nhân”. Về cơ cấu quản lý và điều hành, các Tập đoàn có Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng Giám đốc, các Phó Tổng giám đốc và bộ máy giúp việc. Về cơ cấu tổ chức, các Tập đoàn có công ty mẹ và các công ty con.

Như vậy, các TĐKT đầu tiên ở nước ta chủ yếu được hình thành trên cơ sở tổ chức lại các Tổng công ty Nhà nước. Xu hướng này phần nào xuất phát từ tình trạng hoạt động kém hiệu quả của các Tổng công ty Nhà nước và phù hợp với quy luật vận hành của nền kinh tế thị trường, nhất là trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, dưới tác động mạnh mẽ của toàn cầu hoá.

Tuy nhiên, có một số ý kiến cho rằng việc thành lập các TĐKT bằng các quyết định hành chính ở nước ta trong thời gian qua là không phù hợp với thông lệ ở các nước trên thế giới, thậm chí có người ví việc thành lập các TĐKT trên cơ sở tổ chức lại các Tổng công ty Nhà nước là thay “bình mới” trong khi vẫn là “rượu cũ”.

Tác giả cho rằng những ý kiến nói trên không phải là không có lý nhưng có phần chưa thỏa đáng và còn phiến diện.

TĐKT của Việt Nam vẫn chưa đủ mạnh

Tập đoàn kinh tế Việt Nam còn nhiều khoảng trống

Thực tế cho thấy, để giải quyết các vấn đề cụ thể, mỗi một quốc gia đều có thể lựa chọn cho mình một giải pháp phù hợp với đặc điểm tình hình kinh tế, chính trị, xã hội và trình độ phát triển của đất nước mình.

Trong bối cảnh của kinh tế nước ta, nếu để các doanh nghiệp tự liên kết với nhau như ở các nước thì có lẽ còn lâu chúng ta mới có được những TĐKT đủ mạnh bởi TĐKT vẫn là một khái niệm mới mẻ ở nước ta và trên thực tế thì chúng ta chưa có những công trình nghiên cứu chuyên sâu về TĐKT.

Bên cạnh đó, tư tưởng “mạnh ai người nấy chạy”, “đèn nhà ai rạng nhà nấy” vẫn còn ăn sâu trong văn hoá kinh doanh của người Việt nên việc các công ty tự liên kết với nhau thành những TĐKT chắc chắn không phải là chuyện một sớm một chiều.

Trong khuôn khổ pháp lý kinh tế nói chung ở Việt Nam và các vấn đề về TĐKT nói riêng vẫn chưa hoàn thiện lại thiếu đồng bộ nên việc điều chỉnh các mối quan hệ phức tạp giữa các chủ thể trong TĐKT còn rất nhiều vướng mắc. Cho đến nay, vẫn còn quá sớm để có thể đánh giá những kết quả đạt được của các TĐKT được Chính phủ thành lập trong thời gian qua.

Tuy nhiên, công bằng mà nói, có thể xem đây như một luồng sinh khí mới bước đầu mang lại những dấu hiệu rất khả quan trong quá trình tái cơ cấu các doanh nghiệp Nhà nước và góp phần làm thay đổi bộ mặt của các Tổng công ty Nhà nước trước đây.

Một số góp ý

Để góp phần phát triển các TĐKT mang lại những hiệu quả thiết thực và phù hợp với đặc thù của nền kinh tế Việt Nam, tác giả cho rằng cần phải lưu ý tới một số vấn đề mang tính định hướng sau đây:

Trước hết, cần khẳng định rằng việc Chính phủ ra các quyết định thành lập các TĐKT trong thời gian qua là hết sức cần thiết nhằm thúc đẩy phát triển các TĐKT thuộc các ngành và lĩnh vực trọng yếu của nền kinh tế.

Tuy nhiên, cần phải có một khoảng thời gian nhất định để đánh giá về những kết quả đã đạt được lẫn những tồn tại, yếu kém trong hoạt động của các TĐKT này nhằm rút ra những bài học kinh nghiệm và tìm ra được một hướng đi phù hợp cho các TĐKT nói chung và các TĐKT thuộc sở hữu của Nhà nước nói riêng.

Đẩy mạnh quá trình hình thành các TĐKT là cần thiết nhưng không nên nóng vội và tránh hiện tượng “mốt” thành lập TĐKT. Về lâu dài, việc hình thành các TĐKT cần tuân thủ nguyên tắc tự nguyện, tự chủ và nhu cầu nội tại của các doanh nghiệp hơn là ý chí chủ quan của của các cấp quản lý.

Nhà nước chỉ nên đóng vai trò hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi bằng các cơ chế chính sách chứ không nên can thiệp bằng các biện pháp hành chính vào quá trình hình thành các TĐKT như hiện nay 

Việc hình thành các TĐKT là nhằm tối ưu hoá việc sử dụng các nguồn lực và lợi thế của doanh nghiệp trên cơ sở tận dụng sức mạnh liên kết giữa chúng chứ không phải là nhằm tạo ra một vỏ bọc hào nhoáng, “hoành tráng”. Việc quản trị một TĐKT với quy mô lớn với nhiều mối quan hệ chằng chịt, đan xen là một trong những thách thức đặt ra với các nhà quản trị doanh nghiệp.

Vì vậy, bản thân các nhà quản trị doanh nghiệp cần có sự chuẩn bị chu đáo về cả mặt kiến thức lẫn bản lĩnh kinh doanh để có thể đảm đương được vai trò của mình trong cuộc bứt phá mới.

Có thể nói một cách ví von rằng việc quản trị điều hành một một công ty giống như việc bơi thuyền trên sông; trong khi việc quản trị, điều hành một TĐKT có thể ví với việc lái một con tàu viễn dương.

Nó đòi hỏi người thuyền trưởng – ngoài sự thông hiểu về kiến thức hàng hải- còn phải có một bản lĩnh vững vàng, sự năng động, nhạy bén và khả năng ứng phó để sẵn sàng đương đầu với các thách thức trong suốt hành trình trên đại dương.

Các TĐKT cần được tự chủ hoàn toàn trong việc quyết định chiến lược sản xuất kinh doanh, tức là được toàn quyền chủ động trong việc xác định các mục tiêu, định hướng và các giải pháp thực hiện nhằm đạt được các mục tiêu đề ra trong khuôn khổ quy định của pháp luật.

Vì vậy, Nhà nước cần tôn trọng quyền tự chủ đó của các TĐKT và tránh can thiệp quá mức cần thiết vào hoạt động sản xuất kinh doanh của các TĐKT.

Bên cạnh đó, Nhà nước cũng cần có các chính sách linh hoạt và phù hợp với từng thời kỳ nhằm tạo điều kiện cho các TĐKT tư nhân được hình thành và hoạt động trong một sân chơi bình đẳng.

Hơn nữa, Nhà nước cần có cơ chế khuyến khích các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đầu tư đan xen với nhau nhằm phát huy thế mạnh, chia sẻ rủi ro và tăng cường khả năng cạnh tranh của các TĐKT trong nước với các TĐKT nước ngoài trong bối cảnh Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới;

– Theo Luật Doanh nghiệp (mới) có hiệu lực từ 01/7/2006, “TĐKT là nhóm công ty có quy mô lớn. Chính phủ quy định, hướng dẫn tiêu chí, tổ chức quản lý và hoạt động của TĐKT” (Điều 149).

Tuy nhiên, cho đến nay, Chính phủ vẫn chưa có quy định, hướng dẫn cụ thể về tiêu chí, tổ chức quản lý và hoạt động của TĐKT. Đây cũng là một trong những khó khăn vướng mắc làm cản trở sự ra đời của các TĐKT tư nhân.

Vì vậy, để tạo điều kiện cho các TĐKT ra đời và phát triển, Chính phủ cần gấp rút hoàn thiện các quy định về tổ chức và hoạt động của TĐKT. Như đã nói ở trên, các mối quan hệ sở hữu cũng như hoạt động kinh doanh của các TĐKT là rất đa dạng và phức tạp.

Vì vậy, khi xây dựng các quy định này, chúng ta cần nghiên cứu, học tập kinh nghiệm quốc tế và vận dụng một cách phù hợp với điều kiện thực tiễn ở Việt Nam;

– Cần tiến hành thực hiện việc đánh giá ban đầu về những kết quả hoạt động của các TĐKT trong thời gian qua nhằm phát hiện những ưu, nhược điểm của mô hình kinh doanh mới này và đúc rút được những bài học kinh nghiệm.

Đồng thời thực hiện nghiên cứu một cách toàn diện về các mô hình TĐKT tiêu biểu trên thế giới để có thể tìm ra một (hoặc một số) mô hình TĐKT phù hợp với điều kiện kinh tế- xã hội của nước ta.

Bên cạnh đó, Chính phủ cần xây dựng chiến lược tổng thể về phát triển các TĐKT nhằm định hướng và tạo điều kiện thuận lợi cho các TĐKT thuộc mọi thành phần kinh tế hình thành và phát triển;

– Xây dựng các chương trình đào tạo đội ngũ cán bộ quản trị, điều hành cho các TĐKT. Có thể nói rằng cho đến nay, đào tạo về quản trị điều hành doanh nghiệp nói chung và quản trị TĐKT nói riêng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế.

Các chương trình đào tạo của chúng ta vẫn còn mang nặng tính lý thuyết và xem nhẹ phần thực tiễn.

Vì vậy, giải pháp trước mắt là cần thiết lập các chương trình liên kết với nước ngoài trong việc đào tạo đội ngũ nhân sự quản trị, điều hành TĐKT; trong đó, cần coi trọng cả mặt lý thuyết lẫn thực hành nhằm đáp ứng nhu cầu “đi tắt, đón đầu” trong việc chuẩn bị nguồn nhân lực cho các TĐKT đã, đang và sẽ hình thành trong tương lai;

– Bản thân các TĐKT cần có chiến lược kinh doanh riêng biệt, trong đó xác định rõ mục tiêu, định hướng, lộ trình và các giải pháp phát triển sản xuất, kinh doanh phù hợp với đặc thù của ngành nghề hoạt động trong từng giai đoạn; tập trung đầu tư vào lĩnh vực trọng yếu, tránh tình trạng đầu tư dàn trải, chạy đua theo kiểu “thấy người ăn khoai vác mai mà chạy” và kiểu làm ăn “bóc ngắn cắn dài”.

Bên cạnh sự quan tâm thỏa đáng của Nhà nước, bản thân các TĐKT cần nhận thức đúng đắn về bản chất về tổ chức và họat động của TĐKT, đồng thời có sự chuẩn bị chu đáo về mọi mặt thì mới hy vọng xây dựng được những TĐKT tầm cỡ, đủ khả năng cạnh tranh sòng phẳng với các TĐKT trong khu vực và trên thế giới.

Có như vậy thì các TĐKT mới có thể trở thành một trong những nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế quốc dân và góp phần đưa nước ta vững bước vào một kỷ nguyên mới: Kỷ nguyên công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế../.

(Ths. Doãn Hữu Tuệ, tuanvietnam.net)

Viết bình luận

Lịch

FDA: SAFETY ALERT

Ảnh

Từ khóa